Phân biệt cây Bồ công anh (cao và thấp)

1/ BỒ CÔNG ANH CAO



Tên khác: Bồ công anh, Rau bồ cóc, Diếp dại, Mũi mác.

Tên khoa học: Lactuca indica L.= Lactuca squarrosa Miq., họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang và được trồng làm thuốc nhiều nơi trong nước ta và nhiều nước khác. Ở Trung Quóc rễ Bồ công anh cao còn được dùng với tên Thổ lực sâm, Thổ nhân sâm...

Bộ phận dùng: Lá, cành (Herba Lactucae) (Folia et Caulis Lactucae)..

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, chất nhựa.

Công dụng: Trị nhọt độc, sưng vú do tắc tia sữa, tràng nhạc. Chữa đau dạ dày, ợ chua, táo bón.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-30g sắc uống. Lá tươi giã nát đắp ngoài.

Ghi chú: - Ung nhọt đã vỡ mủ không nên dùng.

- Nên thống nhất gọi tên Lactuca indica là Bồ công anh cao, Tarachacum officinale là Bồ công anh thấp.


2/ BỒ CÔNG ANH THẤP



Tên khác: Bồ công anh

Tên khoa học: Taraxacum officinale Wigg., họ Cúc (Asteraceae) Cây mọc hoang ở vùng núi cao như Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa.

Mô tả: Cỏ sống dai, rễ hình trụ. Lá mọc từ rễ, nhẵn, thuôn dài hình trái xoan ngược, có khía răng uốn lượn hoặc xẻ lông chim, mép giống như bị xé rách. Cụm hoa có cuống dài rỗng, từ rễ mọc lên. Hoa màu vàng, quả mang chùm lông, phát tán nhờ gió.

Bộ phận dùng: Rễ phơi sấy khô, toàn cây dung tươi, khô (Herba Taraxaci).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, nhựa, acid béo.

Công dụng: Chữa sưng vú, tắc tia sữa, chống viêm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

21 lượt xem0 bình luận

Bài đăng gần đây

Xem tất cả

Cây vả