Củ riềng

Đã cập nhật: 29 thg 10, 2021

Củ riềng được đưa vào châu Âu bởi các thầy thuốc Ả Rập từ hơn một ngàn năm trước.


Người ta thường dùng riềng làm thuốc làm ấm cơ thể, kích thích thèm ăn, trị say tàu xe, làm giảm triệu chứng đau thắt ngực & rối loạn tim nhẹ.

Tên khác: Cao lương khương

Tên khoa học: Alpinia officinarum Hance., họ Gừng (Zingiberaceae). Mọc hoang và được trồng khắp nước ta để làm gia vị và làm thuốc.

Bộ phận sử dụng: thân rễ (củ), tinh dầu riềng


Công dụng: kích thích vị giác, trợ tiêu hóa, gây trung tiện, chống nôn mửa, chống nấm, làm ấm cơ thể.

Thành phần dược chất của riềng có khoảng 1% tinh dầu, có mùi thơm long não, chủ yếu có xineola và metylxinnamat.


Riềng là nguồn cung cấp dồi dào các chất natri, sắt, chất xơ, vitamin A, C và flavanoid…


Riềng chứa các hoạt chất mang đặc tính kháng viêm nên rất có ích trong việc điều trị viêm khớp, thấp khớp, phong thấp, đau cơ bắp và giúp vết thương mau lành mà ít để lại sẹo.

Bên cạnh đó, nó cũng còn có khả năng điều trị chứng khó tiêu, giúp làm giảm khó chịu gây ra do viêm loét dạ dày.


Riềng còn chứa nhiều chất chống oxy hóa giúp giảm thiểu các tác hại gây ra bởi các gốc tự do và những độc tố khác trong cơ thể. Từ đó, góp phần phòng ngừa và điều trị các căn bệnh về da như: ghẻ, lang ben, lở loét và sưng viêm.


Ngoài ra, riềng có tác dụng tăng cảm giác ngon miệng, điều trị ho gà, đầy hơi, rối loạn tiêu hóa, mật, ruột co thắt và đau thắt ngực, giúp long đờm, giảm đau cổ họng, trị tiêu chảy, hạ cholesterol và triglyceride trong máu.


Các nghiên cứu trên ống nghiệm đã cho thấy, hợp chất hoạt tính trong củ riềng có thể tiêu diệt tế bào ung thư hoặc ngăn chặn sự lây lan. Một số nghiên cứu khác cho thấy, củ riềng có thể giúp chống lại tế bào ung thư ruột kết, ung thư vú, ống mật, da và gan.


Tuy nhiên, đây chỉ là các nghiên cứu trên ống nghiệm, vẫn cần nhiều nghiên cứu thực tiễn trên người để có thể chứng minh công dụng này của củ riềng.


Củ riềng có thể giúp giảm viêm do có chứa HMP – một chất phytochemical tự nhiên có đặc tính chống viêm mạnh khi được nghiên cứu trên động vật và ống nghiệm.


Trên thực tế, tất cả các loại cây thuộc họ Gừng Zingiberaceae, bao gồm củ riềng, đều có tác dụng giảm đau (một triệu chứng phổ biến của viêm).


Củ riềng có chứa tinh dầu, loại tinh dầu này có thể chống lại vi sinh vật. Do đó, củ riềng có thể giúp kéo dài thời gian bảo quản của một số loại thực phẩm.


Bên cạnh đó, khi thêm củ riềng tươi vào món ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh vibriosis – một bệnh nhiễm trùng do ăn động vật có vỏ chưa được nấu chín.


Nhiều nghiên cứu cho thấy chiết xuất polysaccharide trong củ riềng có tác động kích thích hệ lưới nội mô và làm tăng số lượng tế bào lá lách cũng như tế bào rỉ viêm phúc mạc, đây là những tế bào đóng vai trò then chốt trong hệ miễn dịch => từ đó giúp tăng cường hệ miễn dịch chống sự xâm nhập của vi sinh vật bên ngoài.


Vì có nhiều chất chống oxy hóa nên củ riềng có khả năng loại bỏ chất độc và cải thiện sự tuần hoàn máu. Ngoài ra, đặc tính chống oxy hóa của củ riềng cũng giúp ngăn ngừa các gốc tự do gây tổn thương cho da, qua đó giúp duy trì độ mềm cho da.

Các bài thuốc thường sử dụng riềng:


Trị đau bụng do hàn, nôn ra nước trong, đau bụng do sa đì (sán khí):


Lương phụ hoàn: cao lương khương, hương phụ lượng bằng nhau, tán bột mịn gia nước gừng, cho tí muối làm thành hoàn, mỗi lần uống 3 - 6g, ngày 2 - 3 lần với nước ấm. Trị đau bụng hàn.


Cao lương khương 10g, ngũ linh chi 6g, tán bột mịn trộn đều uống. Trị đau lóet dạ dày tá tràng. Trường hợp xuất huyết không dùng.


Cao lương khương thang: cao lương khương 6g, hậu phác 10g, đương quy 10g, quế tâm 4g, sinh khương 10g, sắc nước uống. Trị đau bụng ngực, đau bụng quặn do cảm lạnh.


Trị nôn ói do vị hàn:


Cao lương khương 10g sao qua tán bột mịn, uống với nước ấm.

Cao lương khương 8g, đại táo 1 quả sắc với 300ml nước còn 1/3 chia uống trong ngày.

Cao lương khương, bạch linh, đảng sâm đều 10g, sắc uống trị chứng nôn hư hàn.


Liều lượng dùng và chú ý: liều thường dùng: uống 3 - 10g.

Không dùng đối với chứng nhiệt thịnh, âm hư. Sách Bản thảo kinh sơ viết: “Vị hỏa sinh nôn, thương thử hoắc loạn, tiêu chảy hỏa nhiệt tâm hư gây đau, kị dùng”.

Lưu ý: muốn giữ vitamin C trong riềng thì ưu tiên ăn riềng tươi, hạn chế chế biến ở nhiệt độ quá cao trong thời gian quá lâu sẽ làm mất vitamin C.


Nguồn tham khảo:

BS Huỳnh Tấn Vũ: https://suckhoedoisong.vn/doc-dao-cu-rieng-16983753.htm

16 lượt xem0 bình luận

Bài đăng gần đây

Xem tất cả

Cây vả